Ủy quyền và các vấn đề liên quan

Ủy quyền và các vấn đề liên quan

Ủy quyền là một việc rất phổ biến trong đời sống pháp luật. Do tính chất tự nguyện thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch, chế định ủy quyền đang bị lạm dụng rất nhiều. Thậm chí vượt quá khả năng cho phép của chế định ủy quyền mà theo luật định cũng như nội hàm ý nghĩa của ủy quyền. Mục đích của việc lạm dụng này có thể nhằm che giấu một giao dịch có thật, hợp thức hóa để thực hiện một số thủ tục hành chính có liên quan. Hoặc đôi khi nhằm đem lại cho một bên chủ thể cảm giác “yên tâm” để đảm bảo quyền lợi của mình.

Hợp đồng ủy quyền

Điều 581 Bộ luật dân sự (Sau đây viết tắt là BLDS) định nghĩa: “Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”.

Khoản 1 điều  142 BLDS quy định: “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”.

Như vậy, người được ủy quyền là người đại diện cho người ủy quyền theo thỏa thuận giữa các bên. Do vậy, ngoài các điểm đặc thù của chế định đại diện thì người được ủy quyền còn chịu sự ràng buộc theo các quy định của pháp luật về hợp đồng ủy quyền.

    1. Đại diện theo ủy quyền và những điểm cần lưu ý :

Chủ thể được phép tham gia với tư cách là người nhận ủy quyền chỉ có thể là cá nhân, con người cụ thể.

Đây là điểm đặc biệt vì trong đời sống pháp luật có rất nhiều chủ thể khác nhau. Đó có thể là một cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình hoặc pháp nhân, tổ chức, nhưng người đại diện cho tất cả những chủ thể này phải là một con người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp luật. (Xem khoản 5, điều 139 và được khẳng định lại ở điều 143 BLDS).

Cá nhân và pháp nhân

– Đối với cá nhân, năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự. Nó có từ khi con người sinh ra cho đến khi con người chết đi và không thể đương nhiên bị bác bỏ, hạn chế ngoại trừ pháp luật quy định trong những trường hợp đặc biệt. Điểm đặc biệt là mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự.

Vì vậy, nếu người đại diện không có năng lực pháp luật thì đương nhiên người đó không thể có đủ khả năng để làm người đại diện. Khác với cá nhân, năng lực pháp luật của pháp nhân, tổ chức không mặc nhiên mà có. Nó chỉ tồn tại khi pháp nhân, tổ chức đó tồn tại và chấm dứt khi pháp nhân, tổ chức đó không còn. Năng lực pháp luật của pháp nhân hay tổ chức phải phù hợp với mục đích hoạt động của nó.

Điều này sẽ dẫn đến việc năng lực pháp luật của các pháp nhân, tổ chức khác nhau sẽ có sự khác nhau. Sự khác nhau này thể hiện ngay ở chính mục đích và lĩnh vực hoạt động mà điều lệ của tổ chức đó ghi nhận và cho phép. Hoạt động của pháp nhân không thể ra ngoài phạm vi khuôn khổ điều lệ của mình (Xem điều 88 BLDS) và giới hạn pháp luật cho phép thực hiện.

Năng lực hành vi dân sự

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (điều 17 BLDS). Chỉ có thông qua những hành vi cụ thể của mỗi một cá nhân con người mới có thể tác động đến những chủ thể khác, tác động đến tài sản và xác lập các quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với người khác.

Tuy nhiên, đối với các chủ thể không phải là cá nhân thì tự thân nó không thể có hành vi, mà phải thông qua người đại diện mới có thể tạo ra các mối quan hệ với những chủ thể khác. Các hoạt động của pháp nhân, tổ chức hoặc một nhóm người đối với một người thứ ba sẽ phải thông qua người đại diện để đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động, và về nguyên tắc sẽ chỉ có duy nhất một người đại diện.

Chúng ta sẽ thấy mặc dù chỉ có duy nhất một người đại diện cho một tổ chức nhưng tại cùng một thời điểm, một tổ chức có cùng lúc nhiều hoạt động, nhiều mối quan hệ khác nhau do nhiều người cùng lúc đại diện cho tổ chức đó để thực hiện.

Tất cả các tư cách đại diện đó đều xuất phát từ cơ chế ủy quyền của người đại diện theo pháp luật mà có. Người được đại diện này cũng luôn phải đảm bảo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Như vậy, một pháp nhân có thể là đại diện cho một cá nhân hay trong các mối quan hệ dân sự được hay không?

Trong thực tế, có một số trường hợp đặc biệt chúng ta vẫn thấy có sự tồn tại của cơ chế đại diện này. Tuy nhiên, những trường hợp này không chỉ đơn thuần là cơ chế đại diện theo ủy quyền. Như đã nói, điểm đặc biệt ở đây là pháp nhân, tổ chức đó, trong khuôn khổ điều lệ hoạt động của mình hoặc được pháp luật ghi nhận, phải có nội dung hoạt động về các lĩnh vực có thể đại diện đó, và thông thường nó chỉ giới hạn ở một số lĩnh vực hoạt động mang tính chất dịch vụ hoặc những hoạt động, công việc cụ thể.

Trong một số trường hợp đặc thù được luật pháp ghi nhận, vì một mục tiêu, nhiệm vụ nhất định, một số tổ chức cũng được giao quyền đại diện cho các cá nhân trong một phạm vi những quan hệ khá đặc biệt (các tổ chức bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em….). Trong một số trường hợp khác, cơ chế đại diện vẫn là những hợp đồng giữa các bên nhưng nó chỉ có thể gói gọn trong phạm vi hoạt động kinh doanh ngành nghề đã được đăng ký như hoạt động đấu giá, hoạt động dịch vụ kinh doanh bất động sản, dịch vụ chứng khoán….

Thông thường, những hoạt động đại diện này mặc dù thuộc phạm vi hoạt động của một tổ chức nhưng lại gắn chặt với từng con người cụ thể, thỏa mãn một số yêu cầu, điều kiện của pháp luật thì mới có khả năng thực hiện được, hoặc người thực hiện nghiệp vụ của tổ chức phải thỏa mãn một số yêu cầu, điều kiện của pháp luật.

    1. Người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người khác khi thực hiện việc đại diện:

Mặc dù người đại diện có thể có những quyền năng rất lớn (theo thỏa thuận hoặc pháp luật cho phép) nhưng tất cả mọi công việc, hoạt động, hành vi của người đại diện luôn phải được thực hiện vì lợi ích của người được đại diện. Người đại diện hoạt động không nhân danh chính bản thân mình và không được vì lợi ích của mình.

Bản chất của đại diện đã là vì người khác, vì vậy người đại diện phải nỗ lực hết mình để thực hiện các công việc được đại diện sao cho có lợi nhất (trong điều kiện có thể), vì lợi ích của người mà mình đã đại diện.

Người đại diện cho pháp nhân cũng không ngoại lệ, họ phải luôn vì lợi ích của pháp nhân, tổ chức của mình và không thể vì lợi ích cá nhân. Chính vì vậy mà người đại diện không được phép xác lập, thực hiện các giao dịch với chính mình hoặc với người khác mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ một số trường hợp đặc thù (xem khoản 5, điều 144).

Trong một số trường hợp đặc thù, pháp luật có cho phép người đại diện được phép thực hiện một số loại giao dịch này, nhưng để đảm bảo quyền lợi của người được đại diện và tính khách quan của các giao dịch, pháp luật có những ràng buộc bằng một số điều kiện, trình tự, thủ tục nhất định cho những trường hợp này  (xem điều 4 Luật doanh nghiệp, điều 126 Luật các tổ chức tín dụng).

Trong trường hợp người được đại diện, vì một mục đích nào đó hoặc vì lợi ích của bản thân, thực hiện công việc gây ra bất lợi hoặc thiệt hại cho người đã ủy quyền, thì người đã ủy quyền có quyền khởi kiện để yêu cầu người được ủy quyền bồi thường thiệt hại. Đồng thời, người được ủy quyền phải giao trả đầy đủ tất cả mọi văn bản, giấy tờ, toàn bộ các khoản tiền, tài sản và tất cả lợi ích thu được khi thực hiện các công việc được ủy quyền cho người đã ủy quyền. Đây là nghĩa vụ của người được ủy quyền.

Hợp đồng, giao dịch được ký kết và thực hiện giữa người đại diện với chính mình hoặc với người thứ ba cũng do chính mình là người đại diện có thể bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (xem điều 122, 128,410 BLDS). Điều này cũng cho thấy người đại diện và người được đại diện không thể là những người có quyền, lợi ích trái ngược, xung đột.

    1. Đối tượng của giao dịch ủy quyền chỉ đơn thuần là công việc có thể thực hiện và được phép thực hiện.

Khác với các giao dịch khác, đối tượng của Hợp đồng ủy quyền chỉ đơn thuần là các công việc, hay nói cách khác là các hành vi cụ thể (Điều 581 BLDS). Có thể các công việc này có liên quan tới một tài sản nào đó, nhưng điều đó không có nghĩa tài sản này là đối tượng của giao dịch. Một chủ sở hữu tác động tới tài sản, thực hiện các quyền của mình thông qua những hành vi.

Trường hợp họ không có khả năng trực tiếp thực hiện thì bằng ý chí, hành vi của mình, họ có quyền thỏa thuận với chủ thể khác có đủ điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi để đại diện cho chủ sở hữu thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thông qua những công việc cụ thể được thỏa thuận giữa chủ tài sản và người đại diện cho chủ tài sản.

Thỏa thuận ủy quyền có người khác đại diện cho chủ sở hữu không làm mất đi tư cách của chủ sở hữu đối với tài sản. Các nội dung được ủy quyền chỉ là những công việc, hành vi cụ thể. Cũng chính vì vậy mà người được ủy quyền không được phép vượt quá nội dung được ủy quyền, và sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người ủy quyền nếu vượt quá nội dung này. Đồng thời cũng chính điều này sẽ dẫn tới quan hệ ủy quyền đương nhiên bị chấm dứt nếu người ủy quyền đó bị mất năng lực hành vi (bị chết, hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết (xem điều 147 BLDS).

Vì vậy, người ủy quyền chỉ có khả năng thực hiện giao dịch ủy quyền nếu họ là người có quyền thực hiện các công việc, hành vi đó. Do vậy, trong những trường hợp mà họ không có, không còn các quyền đó, hoặc các quyền đó bị hạn chế vì một lý do nào đó như có bản án, quyết định hành chính hoặc thông qua những thỏa thuận đối với chủ thể khác qua các giao dịch dân sự, thì họ sẽ không thể ủy quyền những công việc đó cho người khác để thực hiện được.

  1. Người được đại diện có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập.

Trên thực tế, người đại diện thực hiện các công việc vì lợi ích của người được đại diện chứ không vì lợi ích của mình. Mặt khác, người được đại diện mới là người có quyền. Chính vì vậy, mọi vấn đề phát sinh từ quan hệ đại diện, dù là đại diện theo ủy quyền luôn tạo ra quyền và nghĩa vụ cho chính người được đại diện (Điều 139, 586, 587 BLDS).

Người đại diện theo ủy quyền có quyền và nghĩa vụ với người được đại diện theo thỏa thuận tại hợp đồng ủy quyền và quy định của pháp luật. Đối với trường hợp đại diện theo pháp luật, quyền và nghĩa vụ của người đại diện với người thứ ba trong giao dịch chỉ đơn thuần là các quyền, nghĩa vụ mà luật quy định.

Nhưng trong mọi trường hợp, các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ giữa người đại diện và người được đại diện theo ủy quyền không bao giờ có thể ràng buộc được người đại diện phải chịu trách nhiệm với tư cách là chủ sở hữu của tài sản hoặc đương nhiên phải chịu trách nhiệm đối với người thứ ba.

Vì vậy, không thể tồn tại thỏa thuận kiểu như  “người được ủy quyền phải hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm khi thực hiện các công việc được ủy quyền với người thứ ba”. Điều này cũng phù hợp với quy định khi chấm dứt việc ủy quyền do người ủy quyền chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì người đại diện theo ủy quyền có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ các khoản tiền, lợi ích và bàn giao lại đầy đủ các tài liệu, tài sản, các công việc đang thực hiện cho người thừa kế của người ủy quyền (xem điều 147, 148 BLDS), cũng như phù hợp với quy định về việc người ủy quyền phải thanh toán cho người được ủy quyền các chi phí hợp lý mà họ đã bỏ ra để thực hiện các công việc được ủy quyền (xem điều 586 BLDS).

  1. Phạm vi đại diện theo ủy quyền.

Trường hợp các bên lập hợp đồng ủy quyền để chỉ định người đại diện, thì người đại diện chỉ được phép thực hiện chính xác các công việc được ghi trong hợp đồng ủy quyền. Người đại diện không thể thực hiện các công việc không được ghi nhận. Đây là phạm vi mà người đại diện được phép thực hiện và không thể bước ra ngoài phạm vi này.

Điểm đặc biệt là các công việc được ủy quyền được ghi như thế nào thì chỉ được phép làm chính xác như vậy. Không thể suy luận hay biện hộ rằng các công việc này có liên quan đến những công việc được ủy quyền thì được phép thực hiện.

Điều này cũng tương tự như trường hợp ủy quyền của pháp nhân. Mỗi pháp nhân sẽ chỉ có duy nhất một người đại diện theo pháp luật, nhưng trong thực tế đời sống của các pháp nhân (đặc biệt là các pháp nhân có quy mô lớn, tổ chức phức tạp), thông thường tại cùng một thời điểm, pháp nhân đó vẫn có thể thực hiện cùng lúc nhiều giao dịch với nhiều chủ thể.

Để thực hiện được điều này thì người đại diện theo pháp luật thường có những ủy quyền cho người khác trực thuộc pháp nhân của mình để thi hành, thực hiện những công việc diễn ra thường xuyên, liên tục. Các ủy quyền này thông thường là các ủy quyền mang tính chất thường xuyên, có tính chất quản trị hành chính nội bộ của doanh nghiệp. Mỗi tổ chức sẽ xác định các nội dung ủy quyền này phù hợp với tính chất và mục tiêu hoạt động cũng như cơ cấu tổ chức của chính mình.

Tuy nhiên, người được ủy quyền này cũng không thể vượt ra khỏi phạm vi được ủy quyền hay nói cách khác là vượt khỏi thẩm quyền của mình. Mặc dù có nhiều công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng nếu không có những ủy quyền đó thì người được ủy quyền cũng không được phép thực hiện (xem điều 91, 92 BLDS).

Ví dụ

Một ngân hàng sẽ chỉ có duy nhất một người đại diện theo pháp luật. Giám đốc các chi nhánh là người đại diện theo pháp luật cho chi nhánh. Chi nhánh là người hoạt động theo ủy quyền của pháp nhân. Giám đốc chi nhánh thực hiện nhiệm vụ và có thẩm quyền dựa vào ủy quyền của người đại diện cho pháp nhân là ngân hàng đó.

Nếu giám đốc chi nhánh chỉ được ủy quyền ký kết hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng mà không được ủy quyền khởi kiện khách hàng để thu hồi nợ thì ngay cả khi khách hàng quá hạn, người đứng đầu chi nhánh không thể nộp đơn khởi kiện khách hàng, dù chúng ta thấy ngay rằng quyền đòi nợ là một quyền của ngân hàng trong hợp đồng tín dụng do chính giám đốc chi nhánh đó ký kết và thực hiện.

You may also like...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *